Bốn câu hỏi về thực tập thiền trong đời sống dưới đây, do sư ông Viên Minh giải đáp (chị Trầm Hương chia sẻ), là chủ đề được triển khai trong các buổi pháp gần đây tại thiền viện.
Câu hỏi 1
– Theo con biết thiền cần phải tĩnh tâm và không suy nghĩ những chuyện vướng bận ngoài đời, nhưng con thì không thể không nghĩ gì dù chỉ 1 giây. Con phải làm thế nào để tĩnh tâm đây thưa thầy?
Question 1
As I understand it, meditation requires calming the mind and not thinking about worldly entanglements, but I can’t stop thinking even for a second. Teacher, how can I calm my mind?
Trả lời Q1
– Ý đồ “Làm thế nào để tĩnh tâm” đã làm cho con không tĩnh tâm được. Con không thấy đó chỉ là tiếng nói của cái ngã lăng xăng luôn “muốn được sẽ là” chứ chẳng là thiền gì cả sao? Chính ý nghĩ đó phá vỡ cái bình thường của thực tại đang là. Thiền không phải là phá vỡ cái đang là bằng cách tìm kiếm cái sẽ là, mà thiền chính là trọn vẹn với cái đang là (chánh niệm) với tâm rỗng lặng trong sáng. Chẳng có cái gì cần thiết hơn thực tại. Chỉ vì không thấy rằng ngay nơi thực tại đã có tất cả nên bản ngã mới loay hoay tìm kiếm bên ngoài. Và không có gì buồn cười hơn xem việc loay hoay đó của bản ngã là thiền!!!
Answer Q1
The very intention, “How do I calm my mind?” is what keeps you from being calm. Don’t you see that it’s just the voice of the fidgety ego that always “wants to become,” and not meditation at all? That very thought disrupts the ordinariness of reality as it is. Meditation is not breaking what is by seeking what will be; meditation is being wholly with what is (mindfulness), with a mind that is empty, still, and clear. Nothing is more necessary than reality. Only because we don’t see that everything is already present right here in reality does the ego fumble about searching outside. And nothing is more laughable than mistaking that fumbling of the ego for meditation
Câu hỏi 2
Con thưa thầy. Có phải buông bỏ tất cả để trở về thực tại tức là xả bỏ hết phương tiện, niềm tin, niềm vui, mục đích… như con được đọc trong những cuốn sách của thầy không? Để giáp mặt với thực tại – trọn vẹn như nó đang là, với hai bàn tay trắng, không cần phải đòi hỏi thêm tài năng hay điều kiện gì cả. Ở đó mọi buồn vui được mất của cuộc sống muôn đời mà ta sống hòa trong đó – có những giọt nước mắt và có cả những nụ cười… Và điều quan trọng nhất còn lại sau khi đã bỏ phương tiện, bỏ cứu cánh đó là “tánh biết” thấy rõ những giọt nước mặt và nụ cười đó là 1 điều hiển nhiên của tự nhiên, của sự sống, của nhân quả muôn đời. Để rồi 1 ngày kia “tánh biết” đó đủ dũng lực, sáng suốt sẽ ôm trọn nước mắt và nụ cười trong trạng thái im lặng tuyệt đối, vô ngại đi vào dòng đời, sống có ích cho mình và những người xung quanh, chỉ với thực tại đang là và hai bàn tay trắng. Con thưa thầy đó có phải là mục đích của thiền?
Question 2
Teacher, do we have to let go of everything to return to reality—meaning to discard all means, beliefs, joys, purposes… as I’ve read in your books? To face reality fully, just as it is, with empty hands, without demanding any extra talent or conditions. There, in the timeless joys and sorrows, gains and losses of life in which we live in harmony—there are tears and there are smiles… And the most important thing that remains after giving up both means and ends is the “knowing nature” (tánh biết) that clearly sees those tears and smiles as something self-evident—of nature, of life, of the law of cause and effect through the ages. Then one day that “knowing nature,” strong and lucid enough, will embrace both tears and smiles in a state of absolute silence, unobstructed, entering the stream of life and living usefully for oneself and others, with only reality-as-it-is and two empty hands. Teacher, is that the goal of meditation?
Trả lời Q2
Buông bỏ cái gì để trở về thực tại khi ngay đó chính là thực tại? Chỉ có buông bỏ cái ta ảo tưởng trong thái độ ứng xử với thực tại mà thôi. Cái ta luôn tạo ra phương tiện và mục đích để đạt tới ở tương lai, rồi bỏ quên thực tại. Bỏ quên thực tại gọi là thất niệm hay bất tại. Quên thực tại nên không thấy thực tánh pháp, đó là thất giác hay vô minh. Buông cái ta ảo tưởng xuống thì ngay đó có chánh niệm tỉnh giác. Có chánh niệm tỉnh giác thì cần gì phải buông bỏ vui buồn. Nếu buông bỏ hết vui buồn v.v… thì làm sao thấy được thực tánh của vui buồn v.v… ngay nơi thực tại? Vì vậy, không phải buông bỏ vui buồn… mà là buông bỏ thái độ lăng xăng của bản ngã đối với trạng thái vui buồn đó. Tất cả cái gọi là tài năng chỉ là công cụ của bản ngã dùng để chọn lựa pháp theo tư ý tư dục hay vô minh dục vọng của mình. Nói cách khác tài năng chỉ để bản ngã thực hiện phương tiện và mục đích nó đã đề ra. Chính là buông tất cả tiểu xảo đó của bản ngã để tánh biết trong sáng tự nhiên thấy ra bản chất thật của vạn pháp. Như vậy buông bỏ chính là mục đích chứ không phải buông bỏ là phương tiện đạt đến mục đích nào khác. Khi buông bỏ thì không có bản ngã, không có bản ngã thì ngay đó đã là chân đế rốt ráo rồi. Nhớ rằng khi bản ngã đã được buông xuống thì lập tức tánh biết tự phát huy trọn vẹn sự trong sáng tự nhiên vốn đã đầy đủ, chứ không cần đợi đến một ngày kia đủ dũng lực trong sáng mới tự tại vô ngại trong vạn pháp. Buông sự tạo tác lăng xăng của bản ngã để tánh thấy tự chiếu đó là thiền, là sống thuận pháp, vô ngã vị tha…
Answer Q2
What is there to “let go of” in order to return to reality, when right there already is reality? Only let go of the imagined self in the way you relate to reality. The self is always creating means and ends to be reached in the future, and in doing so forgets reality. Forgetting reality is called loss of mindfulness or not being present. Because we forget reality, we don’t see the true nature of phenomena; that is delusion/ignorance. When the imagined self is dropped, right then there is right mindfulness and clear awareness. With right mindfulness and clear awareness, why would you need to discard joy and sorrow? If you were to discard all joy and sorrow, how could you see their true nature in reality? So it’s not about discarding joy and sorrow, but discarding the ego’s restless attitude toward those states. All so-called “talents” are merely tools the ego uses to pick and choose phenomena according to its preferences and blind desires. In other words, talent simply serves the ego to carry out the means and ends it has set. What’s needed is to relinquish all those little contrivances of the ego so the clear, natural knowing can see the true nature of all things. Thus letting go itself is the aim, not a means to some other aim. When there is letting go, there is no ego; without ego, right there is the ultimate truth. Remember: once the ego is put down, the knowing nature immediately and fully manifests its inherent clarity; there’s no need to wait for some future day when it has enough strength and lucidity to be unimpeded among all phenomena. Letting go of the ego’s busy fabrications so the seeing-nature shines by itself—that is meditation, that is living in accord with the Dharma, selfless and altruistic.
Câu hỏi 3
Thưa Thầy, những lúc con suy nghĩ và chỉ suy nghĩ thì làm sao chánh niệm tỉnh giác ạ? Ví dụ như khi con tập trung suy nghĩ đề hoàn thành một bài tập được giao thì phải làm thế nào hả Thầy? Con có phỏng theo lời kinh dạy thì con thấy là con cứ hoàn toàn đầu nhập vào suy nghĩ, nhưng thỉnh thoảng lại giật mình một cái nhận thức ra rằng con đang suy nghĩ thì thế đã được gọi là chánh niệm tỉnh giác chưa ạ? Còn nếu chánh niệm tỉnh giác là con phải tỉnh giác từng suy nghĩ trong đầu một thì làm thế nào để con vừa suy nghĩ vừa tỉnh giác về suy nghĩ được ạ?
Question 3
Teacher, when I’m thinking—only thinking—how can there be mindfulness and clear awareness? For example, when I focus on thinking to complete an assignment, what should I do? I try to follow the scriptures and find myself completely immersed in the thinking, but from time to time I jolt and realize that I am thinking—does that already count as mindfulness and clear awareness? And if mindfulness and clear awareness means being aware of each thought one by one, how can I both think and be aware of the thinking?
Trả lời Q3
Có hai loại suy nghĩ: Nhớ lại quá khứ là một chức năng tự nhiên xuất hiện khi cần đến. Nhưng không cần phải chủ tâm “trở ngược về những gì đã xảy ra trong quá khứ, để nhìn ra bản ngã được tạo thành ra sao”. Bởi vì không chừng ý đồ trở về này cũng phát xuất từ bản ngã. Chỉ cần nhận ra cái ta trong hiện tại thì tự nhiên thấy ra nó trong quá khứ đã diễn biến như thế nào. Nói là “chiêm nghiệm” nhưng thực ra chỉ chiêm nghiệm thật sự khi lắng nghe quan sát thực tại đang là, vì chỉ có thể nhớ lại quá khứ để suy ngẫm chứ không thể chiêm nghiệm quá khứ được. Đúng nghĩa từ chiêm nghiệm là quan sát sự kiện đang trải nghiệm. Nếu lo nhớ lại quá khứ để suy ngẫm thì không thể phát hiện được cái ta đang hiện hành ra sao, như vậy làm thế nào mà đánh bật được gốc của bản ngã? Chánh tư duy chỉ có khi có chánh tri kiến trên sự kiện thực tại. Thực tại đó có thể là một hình ảnh quá khứ đang tái hiện tự nhiên. Nhưng tự ý tư duy về quá khứ để tìm tòi thì đó không phải là chánh tư duy mà chỉ là hoạt động của lý trí, phần lớn hoạt động này là vọng niệm. Do đó, đức Phật dạy: “Quá khứ không truy tìm, tương lai không ước vọng, chỉ có pháp hiện tại, tuệ quán chính là đây” vậy.
Một là suy nghĩ lan man “thả hồn theo mây khói” không còn tự biết mình nữa, đó gọi là thất niệm bất giác, nghĩa là lúc đó không có chánh niệm tỉnh giác.
Hai là suy nghĩ một cách trầm tĩnh sáng suốt, nhận thức vấn đề rõ ràng mà không hề quên mình, đó là suy nghĩ trong chánh niệm tỉnh giác. Chánh niệm tỉnh giác là tâm trở về (chánh niệm) thắp sáng (tỉnh giác) thực tại đang là, dù thực tại đó là hoạt động của thân, của những cảm giác khổ lạc, cảm xúc vui buồn hay những hoạt động của nội tâm như suy tư, thương, ghét …
Ví dụ như khi đi con tỉnh thức (tỉnh giác) trọn vẹn (chánh niệm) với diễn biến động tác đi, gọi là chánh niệm tỉnh giác trên thân; khi đau đớn con tỉnh thức trọn vẹn với cảm giác đau, gọi là chánh niệm tỉnh giác trên thọ; khi suy nghĩ con tỉnh thức trọn vẹn với dòng suy nghĩ, gọi là chánh niệm tỉnh giác trên tâm; khi làm bài tập (nghĩa là một hoạt động kết hợp nhiều động tác của thân, thọ, tâm) con vẫn tỉnh thức trọn vẹn với việc làm bài, gọi là chánh niệm tỉnh giác trên pháp.
Chỉ khi nào con đi mà tâm lang thang bất định không biết rõ động thái đang đi; khi đau đớn thì liền lo sợ, tưởng tượng lung tung, không biết rõ trạng thái đau đang diễn biến ra sao; khi suy nghĩ về một vấn đề nghiêm túc con lại để tâm lang thang ra “ngoài luồng”, quên mất mình phải trầm tĩnh sáng suốt mà suy nghĩ ngay trên thực kiện; khi làm một bài tập con lại nghĩ đến chơi game, không trọn vẹn sáng suốt để làm bài… khi đó mới gọi là thất niệm bất giác.
Answer Q3
There are two kinds of thinking:
1. Wandering, drifting thinking—“letting your soul float with the clouds”—where you are no longer aware of yourself. That is loss of mindfulness and non-awareness; at such times there is no mindfulness and clear knowing.
2. Calm, lucid thinking—grasping the issue clearly without forgetting yourself. That is thinking within mindfulness and clear awareness. Mindfulness-and-clear-awareness means the mind returns (mindfulness) to illuminate (clear knowing) reality as it is, whether that reality is bodily activity; sensations of pain or pleasure; emotions of joy or sorrow; or inner activities such as pondering, loving, hating…
For example: when walking, you stay awake (clear awareness) and wholly present (mindfulness) to the unfolding of the walking—this is mindfulness-and-clear-awareness of the body. When in pain, you are wholly awake to the feeling of pain—mindfulness-and-clear-awareness of feelings. When thinking, you are wholly awake to the stream of thinking—mindfulness-and-clear-awareness of mind. When doing homework (an activity that combines body, feeling, and mind), you remain wholly awake to doing the work—mindfulness-and-clear-awareness of phenomena (dharma). Only when you walk while the mind wanders, not clearly knowing the act of walking; when in pain you immediately fear and fantasize, not clearly knowing how the pain unfolds; when thinking seriously about an issue you let the mind drift “off-channel,” forgetting to remain calm and lucid and to think right on the actual matter; when doing an assignment you start thinking about gaming and aren’t wholly lucid in doing the work—only then is it called loss of mindfulness and non-awareness.
Câu hỏi 4
Chiêm nghiệm lại “bản vẽ” của mình từ hiện tại trở ngược về những gì đã xảy ra trong quá khứ, để nhìn ra bản ngã được tạo thành ra sao, để thấy rõ mình đã tham sân si ra sao…, từ đây sự hình thành của bản ngã được nhận rõ…, có phải việc làm nầy là chánh tư duy không?
Có cần làm điều nầy mới đánh bật được gốc của bản ngã và vô minh ái dục không? Chúc Thầy sức khỏe tốt
Question 4
Respected Teacher, may I ask: If I reflect on my personal “blueprint,” from the present back into the past, to see how the ego was formed, to see clearly how I have been greedy, angry, and deluded—recognizing from there how the ego took shape—is that right thinking (chánh tư duy)? Do I need to do this in order to uproot the ego and the ignorance of craving? Wishing you good health.
Trả lời Q4
Nhớ lại quá khứ là một chức năng tự nhiên xuất hiện khi cần đến. Nhưng không cần phải chủ tâm “trở ngược về những gì đã xảy ra trong quá khứ, để nhìn ra bản ngã được tạo thành ra sao”. Bởi vì không chừng ý đồ trở về này cũng phát xuất từ bản ngã. Chỉ cần nhận ra cái ta trong hiện tại thì tự nhiên thấy ra nó trong quá khứ đã diễn biến như thế nào. Nói là “chiêm nghiệm” nhưng thực ra chỉ chiêm nghiệm thật sự khi lắng nghe quan sát thực tại đang là, vì chỉ có thể nhớ lại quá khứ để suy ngẫm chứ không thể chiêm nghiệm quá khứ được. Đúng nghĩa từ chiêm nghiệm là quan sát sự kiện đang trải nghiệm. Nếu lo nhớ lại quá khứ để suy ngẫm thì không thể phát hiện được cái ta đang hiện hành ra sao, như vậy làm thế nào mà đánh bật được gốc của bản ngã? Chánh tư duy chỉ có khi có chánh tri kiến trên sự kiện thực tại. Thực tại đó có thể là một hình ảnh quá khứ đang tái hiện tự nhiên. Nhưng tự ý tư duy về quá khứ để tìm tòi thì đó không phải là chánh tư duy mà chỉ là hoạt động của lý trí, phần lớn hoạt động này là vọng niệm. Do đó, đức Phật dạy: “Quá khứ không truy tìm, tương lai không ước vọng, chỉ có pháp hiện tại, tuệ quán chính là đây” vậy.
Answer Q4
Remembering the past is a natural function that appears when needed. But there’s no need to deliberately “go back to what happened in the past in order to see how the ego was formed,” because that very intention to go back may itself come from the ego. It’s enough to recognize the self in the present; then you naturally see how it unfolded in the past. We speak of “contemplation,” but in fact there is true contemplation only when listening to and observing reality as it is, for you can only remember the past to ruminate on it—you cannot contemplate the past. Strictly speaking, contemplation means observing what you are experiencing now. If you are busy recalling the past to mull it over, you cannot detect how the self is operating right now; so how could you uproot the ego? Right thinking exists only when there is right view regarding the event of present reality. That reality may be a past image naturally reappearing. But intentionally thinking about the past to search and probe is not right thinking; it is merely the activity of the intellect, and for the most part that activity is delusive thought. Therefore the Buddha taught: “Do not chase after the past; do not long for the future; only the present Dharma exists—insight is precisely here.”